Thursday, November 2, 2017

Tự chủ - đòn bẩy phát triển giáo dục đại học (Nhân dân cuối tuần 28/10/2017)

Đó là tựa bài viết mới của tôi đăng trên NDCT vào cuối tuần rồi. Tựa ấy, và nội dung bài viết, đã được ban biên tập sửa chữa lại trên bản gốc của tôi. Các bạn có thể đọc bài ấy ở đây: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/item/34537802-tu-chu-don-bay-phat-trien-giao-duc-dai-hoc.html

Còn dưới đây, tôi muốn đăng lại bài gốc mà tôi đã gửi, với một tựa khác, và một số nội dung giờ đã được ban biên tập cắt bỏ. Thực ra thì cũng không có gì khác nhiều, nhưng bản đã biên tập nhẹ nhàng hơn, còn bản tôi viết thì ... thẳng thừng, theo phong cách của tôi, hi hi.
---------------
Tự chủ đại học: Bộ muốn giao nhưng chưa nhiều trường muốn nhận, vì sao?

Tự chủ đại học không phải là một vấn đề mới mẻ, mà đã chính thức được đặt ra tại Việt Nam từ những năm đầu của thập niên trước. Khái niệm “tự chủ” xuất hiện lần đầu trong một văn bản quy phạm pháp luật là trong  Điều lệ trường đại học 2003, rồi sau đó được cụ thể hóa trong Nghị định 43/2006/ NĐ-CP của Chính phủ. Từ đó đến nay, việc đẩy mạnh trao quyền tự chủ cho các trường đại học vẫn là một chủ trương nhất quán của chính phủ nói chung và của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói riêng.

Mặc dù vậy, quá trình thực triển khai áp dụng mô hình tự chủ đại học tại Việt Nam hoàn toàn không dễ dàng. Phải hơn một thập niên sau, việc áp dụng mô hình tự chủ tại các trường công lập mới được thí điểm. Tâm lý “ngại tự chủ” vẫn là một tâm lý phổ biến ở nhiều trường. Ngay cả các trường trong nhóm thí điểm tự chủ - là các trường mạnh, được xem là đã có đủ điều kiện để thực hiện tự chủ - cũng cho rằng cơ chế hiện nay vẫn còn rất nhiều vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là những gì đã được chia sẻ tại Hội nghị tổng kết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội vào ngày 20/10/2017 vừa qua.

Những khó khăn trong việc chuyển đổi từ một mô hình được nhà nước bao cấp và kiểm soát chặt chẽ sang mô hình tự chủ không chỉ có ở Việt Nam mà tồn tại ở tất cả các nơi trên thế giới. Tâm lý trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước và sự quản lý chi li chặt chẽ của các cơ quan hữu quan trong một thời gian dài đã khiến cho các trường mất đi sự năng động và sáng tạo cần thiết. Ngay ở Mã Lai, một quốc gia trong khu vực với một nền giáo dục đại học  khá phát triển so với Việt Nam, cũng tồn tại những khó khăn và vướng mắc tương tự. Bởi, tự chủ đại học không thể “đùng một cái”, mà các trường muốn sử dụng sự tự chủ như một đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của nhà trường thì cũng phải cần những điều kiện nào đó, mà . Những điều kiện đó là gì?

Tự chủ đại học trước hết là tự chủ về nhân sự
Cần khẳng định rằng tự chủ đại học bao hàm nhiều khía cạnh chứ không chỉ là tự chủ về tài chính, và hoàn toàn không đồng nghĩa với việc cắt mọi hỗ trợ tài chính từ nhà nước. Đây cũng là điều mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã khẳng định trong Hội nghị vừa qua. Chỉ có điều, nếu cứ cấp ngân sách theo kiểu chia đều cho tất cả các trường công lập thì sẽ không bao giờ có đủ ngân sách để đáp ứng mọi nhu cầu hoạt động của tất cả các trường, dẫn đến việc đầu tư manh mún, nhỏ giọt và không hiệu quả. Vì vậy, cần cắt giảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên để thể tập trung vào các mục tiêu quan trọng, như đầu tư vào các phòng thí nghiệm trọng điểm hoặc đầu tư nghiên cứu trường những ngành công nghệ cao đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Nhưng đầu tư vào cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại để rồi không có nguồn nhân lực đủ mạnh để khai thác thì lại là một sự lãng phí khác. Rõ ràng, để có thể tự chủ thì trước hết các trường phải bảo đảm được một lực lượng giảng viên và nhà khoa học giỏi có khả năng tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị tương xứng với những đầu tư của nhà nước. Lực lượng này tìm ở đâu khi các trường không có sẵn?

Như vậy, có thể thấy điều kiện đầu tiên để tự chủ là người đứng đầu nhà trường phải có đủ thẩm quyền và điều kiện để thu hút các giảng viên và các nhà khoa học giỏi về làm việc, bổ nhiệm họ vào các vị trí xứng đáng với năng lực. Đồng thời, họ cũng cần thẩm quyền loại bỏ những người đang có trong biên chế, thậm chí có chức vụ trong hệ thống nhưng không có đủ năng lực hoặc trách nhiệm để thực hiện tốt công việc.

Đáng tiếc là các chính sách hiện nay chưa thực sự cho phép các trường công lập thực hiện điều này, khi cơ cấu quyền lực của các trường vẫn còn chưa rõ ràng, khi tồn tại song song vai trò chỉ đạo chung của Đảng ủy (nơi có thẩm quyền cao nhất về mặt nhân sự, đặc biệt là các vị trí chủ chốt) và vai trò định hướng chuyên môn của Hội đồng trường, mà vai trò thực tế đã được mọi người chỉ ra là hoàn toàn hình thức!

Bên cạnh đó, chính sách lương bổng cào bằng và thiếu hấp dẫn trong thời gian dài vừa qua, cùng cách quản lý nặng về hành chính, thậm chí đôi khi quan liêu, của hệ thống đại học công lập của Việt Nam, đã làm nản lòng rất nhiều nhà khoa học. Tất nhiên trong những năm gần đây một số trường, đặc biệt là các trường được tự chủ tài chính, cũng đã có nhiều chính sách để đẩy mạnh nghiên cứu và công bố quốc tế và đã có nhiều thành quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhưng những thành tựu của các trường này cũng chỉ mới nằm ở các công bố hàn lâm mà chưa có những phát minh sáng chế mang tính ứng dụng và có thể đưa ra thị trường để tạo ra thu nhập cho các trường.

Đây là cũng một khó khăn lớn khác chỉ có thể được tháo gỡ nếu cần có những chính sách mang tính đột phá về quản lý nhân sự trong trường đại học, cụ thể là trao cho hiệu trưởng quyền tự chủ hoàn toàn trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm, xác định mức lương và các đãi ngộ khác, cũng như bãi nhiệm các nhân sự chủ chốt trong hệ thống, miễn sao có thể đạt được các mục tiêu phát triển của nhà trường là được.

Tự chủ đến từng giảng viên, hay thế kiềng ba chân trong tự chủ đại học
Hiệu trưởng các trường đại học phải được toàn quyền quyết định trong mọi vấn đề về nhân sự, ngay cả việc bổ nhiệm và bãi nhiệm các nhân sự chủ chốt - quả là một ý nghĩ táo bạo đối với  Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, đó chính là cái quyền mà hiệu trưởng các trường đại học tại các nước tiên tiến trên thế giới đương nhiên được hưởng. Thật nguy hiểm, vì nếu họ lạm quyền thì sao?
Thực ra, tự chủ đại học trên thế giới chưa bao giờ được hiểu với nghĩa hiệu trưởng muốn làm gì thì làm. Trong mô hình quản trị đại học tại các nước tiên tiến trên thế giới không chỉ có yếu tố tự chủ, mà là một bộ ba luôn đi kèm với nhau, đó là: tự chủ - trách nhiệm giải trình - đồng quản trị (shared governance). Nếu không có 2 yếu tố còn lại thì tự chủ đại học sẽ mất đi toàn bộ giá trị và không thể nào là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của các trường đại học được.

Quyền tự chủ càng cao thì trách nhiệm giải trình càng lớn, điều này đối với có lẽ nhiều người cũng đã nghe quen và sẽ không ai phản đối. Nhưng khái niệm “đồng quản trị” có thể vẫn còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, ít ra là về ngôn từ, nên sẽ được giải thích ngay dưới đây.

Tờ Chronicle of Higher Education đã định nghĩa khái niệm này như sau: Đồng quản trị là đạt được sự cân bằng giữa một bên là sự tham gia của các giảng viên và nhân viên trong mọi quá trình lập kế hoạch và ra quyết định của nhà trường, và bên kia là trách nhiệm giải trình của bộ phận quản lý.

Dùng ngôn ngữ dễ hiểu hơn, ta có thể nói đồng quản trị là cho phép những người không nằm trong bộ máy quản lý tham gia trực tiếp vào việc điều hành và giám sát nhà trường. Hoặc, dùng một cụm từ quen thuộc hơn nữa, đồng quản trị chính à đẩy mạnh “dân chủ hóa” trong môi trường giáo dục.

Đến đây thì ta bỗng thấy khái niệm đồng quản trị không còn gì là bí hiểm nữa, mà thực ra đã rất quen thuộc đối với Việt Nam. Thực vậy, chỉ cần đọc những lời phát biểu dưới đây của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, sẽ thấy rằng nội hàm của khái niệm đồng quản trị đã được ông hiểu rất rõ.

“Tinh thần tự chủ ĐH nói từ đầu đến giờ mới chỉ là xoá bỏ những can thiệp hành chính không cần thiết của cơ quan chủ quản, Bộ Giáo dục và Giáo dục vào hoạt động nhà trường. Nhưng tự chủ phải đi xuống từng trường đại học, phải xuống đến tận khoa, bộ môn, giảng viên một cách xuyên suốt”.
***********
“Con đường dài dằng dặc đến tự chủ đại học” là tưa một bài báo được đăng cách đây vài tháng trên tờ The Sun Daily của Mã Lai để tóm tắt những khó khăn của đất nước này trong việc đẩy mạnh tự chủ đại học. Nếu Mã Lai vẫn còn nhiều khó khăn như vậy thì chắc chắn Việt Nam cũng sẽ còn rất nhiều trở ngại. Tuy nhiên, điều đáng sợ hơn là chúng ta đi mò mẫm mà không có phương hướng. Giờ đây, khi đã xác định được những điều kiện cần để có thể chuyển đổi từ một mô hình hoàn toàn bao cấp sang mô hình tự chủ cao, thì với quyết tâm hiện nay của chính phủ, chắc chắn sắp tới chúng ta sẽ đưa được các trường đại học của Việt Nam vào quỹ đạo phát triển chung của các trường học trên toàn thế giới.  

Sunday, October 22, 2017

Lại nói về reliability và validity trong nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định lượng với tính chất khoa học và rõ ràng, thuyết phục của nó đã tràn vào các ngành xã hội-nhân văn, khiến cho người ta quên mất giá trị của nghiên cứu định tính, vốn là cách tiếp cận nghiên cứu phù hợp nhất đối với các ngành học này. Tuy nhiên,giờ đây người ta đã nhận ra sự sai lầm của việc bỏ qua hoàn toàn cách tiếp cận nghiên cứu định tính, và quay trở lại với cách tiếp cận này và nâng tầm nó lên bằng cách bổ sung cho nó phương pháp tư duy gọn gàng, có hệ thống của cách tiếp cận định lượng. Vì vậy một loạt những khái niệm căn bản của nghiên cứu định lượng đã được đưa về thảo luận trong cách tiếp cận định tính, mà quan trọng nhất là hai khái niệm tin cậy (reliability) và giá trị (validity) vốn đã được khẳng định là 2 yêu cầu căn bản của mọi nghiên cứu - xét theo cái nhìn của cách tiếp cận định lượng, tất nhiên.

Câu hỏi đặt ra là có thể áp dụng nguyên xi các định nghĩa về reliability và validity trong cách tiếp cận định lượng sang cách tiếp cận định tính được không? Hỏi, cũng là trả lời: tất nhiên là không! Và đó là lý do tại sao các nhà phương pháp học (ở đây là phương pháp nghiên cứu - research methodologist) phải đưa ra một loạt các khái niệm tương đương với hai khái niệm reliability và validity trong nghiên cứu định lượng. Và đây là một bài như vậy, viết bằng tiếng Anh, sorry các bạn không đọc trực tiếp bằng tiếng Anh được. (Và đó là lý do tại sao chúng ta nên học giỏi tiếng Anh ha ha!)

Bài ấy đây, và nhớ đọc cả những bài liên quan được nêu trong blog list bên tay phải nữa nhé. https://cirt.gcu.edu/research/developmentresources/research_ready/qualitative/validity

Tôi không rõ ở trong tiếng Việt người ta đã có những khái niệm tương tự với những khái niệm được nêu trong bài viết này chưa, nhưng tôi thì chưa được gặp nên phải nghĩ vội và ghi vội lên đây mấy từ tương đương mà tôi vừa nghĩ được - để khỏi quên, chứ không phải là tôi cho rằng chúng đã hoàn hảo.

1. Credibility = tính khả tín (?) - tương tự internal validity bên định lượng
2. Transferability = tính mở rộng (?) - tương đương external validity bên định lượng
3. Dependability = tính nhất quán (?) - tương đương độ tin cậy bên định lượng
4. Confirmability = tính xác thực (?) - tương đương tính khách quan bên định lượng

Để các bạn dễ dàng nhận xét, góp ý, chê bai vv, xin chép lại định nghĩa 4 khái niệm này dưới đây. Nguồn của nó chính là cái link mà tôi nêu ở trên.

  • Credibility - Often called internal validity, refers to the believability and trustworthiness of the findings. This depends more on the richness of the data gathered than on the quantity of data. The participants of the study are the only ones that decide if the results actually reflect the phenomena being studied and therefore, it is important that participants feel the findings are credible and accurate.  Triangulation is a commonly used method for verifying accuracy that involves cross-checking information from multiple perspectives.  The link in Resources Links on the left describes different types of triangulation methods.
  • Transferability - Often called external validity, refers to the degree that the findings of the research can be transferred to other contexts by the readers. This means that the results are generalizable and can be applied to other similar settings, populations, situations and so forth. Researchers should thoroughly describe the context of the research to assist the reader in being able to generalize the findings and apply them appropriately.
  • Dependability - Otherwise known as reliability, refers to the consistency with which the results could be repeated and result in similar findings. The dependability of the findings also lends legitimacy to the research method. Because the nature of qualitative research often results in an ever changing research setting and changing contexts, it is important that researcher document all aspects of any changes or unexpected occurrences to further explain the findings. This is also important for other researchers who may want to replicate the study.
  • Confirmability - A measure of the objectivity used in evaluating the results, describes how well the research findings are supported by the actual data collected when examined by other researchers. Researchers bring their own unique perspectives to the research process and data interpretation can be somewhat subjective in qualitative research. If findings are corroborated or confirmed by others who examine the data, then no inappropriate biases impacted the data analysis.
PS: Bài viết này cũng rất đáng quan tâm; nó tóm tắt những khác biệt giữa cách tiếp cận định lượng và định tính.

http://www.iph.org.vn/attachments/article/604/ninh.teaching%20Introduction__Quantitative_and_Qualitative_research.pdf